Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay223
mod_vvisit_counterHôm qua247
mod_vvisit_counterTrong tuần1602
mod_vvisit_counterTuần trước2264
mod_vvisit_counterTrong tháng5355
mod_vvisit_counterTháng trước8932
mod_vvisit_counterTất cả658380

Hiện có: 21 khách online
Hôm nay: 18/11/2017 - 15:37
Hội nghị khoa học của tổng hội địa chất VNJ
Thứ tư, 12 Tháng 2 2014 08:03    In Email

SỰ BIẾN ĐỘNG TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT LÃNH THỔ VIỆT NAM. NHỮNG THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP

PGS TS ĐOÀN VĂN CÁNH1; TS NGUYỄN THỊ THANH THỦY2; PGS TS PHẠM QUÝ NHÂN3; ThS TRẦN THỊ HUỆ4; TS TỐNG NGỌC THANH5; TS BÙI TRẦN VƯỢNG6; ĐẶNG TRẦN TRUNG7;

(1 Chủ tịch hội Địa chất thủy văn Việt Nam; 2 PCN Bộ môn ĐCTV- Trường Đại học Mỏ Địa chất ; 3 PGĐ Trung tâm QH và ĐT TNN QG – Bộ TN và MT;  4 Trưởng phòng QL TNN, Cục QL TNN-Bộ TN và MT; 5 GĐ TT QH và ĐT TNN QG– Bộ TN và MT; 6 Phó LĐT LĐ QH và ĐT TNN miền Nam; 7 PGĐ TT Quan trắc và dự báo TNN.

TÓM TẮT

Tài nguyên nước dưới đất lãnh thổ Việt Nam tập trung trong 6 cấu trúc chứa nước chính, trong đó chủ yếu trong các thành taọ bở rời ở hai đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) và Nam Bộ (ĐBNB). Do khai thác sử dụng một cách chưa hợp lý, tài nguyên  nước dưới đất đang có sự biến động mẽ. Một mặt chúng ta nhận thầy nước dưới đất ở một số diện tích trên hai đồng bằng đang bị giảm về trữ lượng, xấu về chất lượng. Ngược lại, cũng trên ĐBBB và ĐBNB, có tầng chứa nước mới đã được phát hiện và một số diện tích nước dưới đất đang dược nhạt hóa. Trong bài báo này đi sâu đánh giá hiện trạng tài nguyên nước dưới đất về sự phân bố các tầng chứa nước, trữ lượng tiềm năng nước dưới đất, hiện trạng khai thác sử dụng trên cơ sở cập nhật những nghiên cứu mới nhất trên hai đồng bằng, đồng thời phân tích sự biến động tài nguyên nước trong nhiều thập kỷ qua, đánh giá các nguyên nhân gây ra những biến động đó và đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ phục vụ khai thác bền vững tài nguyên nước dưới đất ở ĐBNB. Đó cũng là nội dung nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước đang thực hiện mã số KC.08.06/11-15.

SUMMARY

GROUNDWATER RESOURCES FLUCTUATIONS IN VIETNAM TERRITORY. CHALLENGES AND SOLUTIONS

Groundwater resources in Vietnam is in 6 main water-bearing structures, which are mainly in unconsolidated formations at Bắc Bộ (ĐBBB) and Nam Bộ (ĐBNB) deltas.  Due to exploiting and using not irrationally, groundwater resources strongly fluctuates. On the one hand we find groundwater in some areas on two plains decrease  in reserves and quality. On the other hand, on ĐBBB and ĐBNB, new aquifer have been discovered, many fresh-water area is expanding. This paper is deeply assessed the current state of groundwater resources on the distribution of aquifers, groundwater potential reserves, current utilization, also analyzed the variation of water resources in quantity and quality over the past decades, evaluated the causes of these changes and proposed scientific and technological solutions for sustainable exploitation of groundwater in Nam Bộ Plain. It is also our research content in the subject of state-level scientific research code KC.08.06/11-15.

Mở đầu

Như chúng ta đã biết, nước dưới đất lãnh thổ Việt Nam tồn tại trong các thành tạo cát, cuội, sỏi bở rời, cát, bột kết, bazan, đá vôi và một số thành tạo khác tạo thành các tầng chứa nước  chính trong các miền Đông Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ. Trong mấy thập kỷ qua, dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và con người, nước dưới đất trong các cấu trúc chứa nước trong lãnh thổ Việt Nam biến động rất mạnh mẽ. Nhiều tầng chứa nước đã được phát hiện trước kia, hiện nay đang được khai thác sử dụng. Do khai thác sử dụng một cách chưa hợp lý, tài nguyên  nước dưới đất đang có sự biến động theo hướng xấu đi. Ngược lại, nhiều tầng chứa nước mới đã được phát hiện, nhiều diện tích nước nhạt đang được mở rộng, nhiều vùng núi đá vôi xa xôi hẻo lánh đến nay đã tìm được nguồn nước dưới đất để sử dụng. Trong số những cấu trúc chứa nước nêu trên thì cấu trúc chứa nước ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ có sự biến động mạnh mẽ nhất. Do khuôn khổ bài báo có hạn, ở đây chúng tôi đi sâu nghiên cứu và phân tích những biến động tài nguyên nước dưới đất ở ĐBBB và ĐBNB. Những vùng còn lại chỉ trình bày một cách khái quát.

1. Tài nguyên nước dưới đất lãnh thổ Việt Nam và hiện trạng khai thác sử dụng

Đồng bằng Bắc Bộ có ba tầng chứa nước chính đang được khai thác sử dụng, đó là các tầng chứa nước qh, qp và n2 . Đồng bằng Nam Bộ có 7 tầng chứa nước, nhưng đang được khai thác sử dụng 4 tầng chứa nước chính là qp2-3, qp1, n22  và n21. Ở miền Tây Bắc và Đông Bắc Bộ các thành tạo chứa nước chính là  đá vôi. Ở Tây Nguyên thì đối tượng được khai thác sử dụng nhiều nhất là tầng chứa nước trong đá bazan. Còn các tỉnh Bắc và Nam Trung Bộ nước dưới đất tồn tại trong các thành tạo bở rời Đệ tứ có giá trị khai thác sử dụng hơn cả.

 Hiện trạng khai thác và trữ lượng tiềm năng của các tầng chứa nước đã được thống kê và đánh giá. Theo con số thống kê tính toán [9, 10, 11], so với trữ lượng khai thác tiềm năng thì lượng nước khai thác hiện nay chỉ chiếm một phần nhỏ (chi tiết xem trong bảng 1). Ấy thế mà, ở khắp mọi nơi hiện trạng mực nước và chất lượng nước đang có xu hướng suy giảm. Mực nước trong các giếng khoan khai thác suy giảm liên tục, nhiều nơi diễn ra xâm nhập mặn, diện tích nước nhạt bị thu hẹp. Tình hình biến đổi tài nguyên nước dưới đất cả về trữ lượng (mực nước), cả về chất lượng nước được bài báo đề cập cụ thể đối với các đơn vị chứa nước chủ yếu và bước đầu nhận định về nguyên nhân biến động, đưa ra giải pháp đối phó để giảm thiểu tác động xấu tới tài nguyên nước dưới đất.

Bảng 1. Tiềm năng và hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất ở Việt Nam

TT

Thành phố, vùng

Lượng nước đang khai thác, m3/ngày

Trữ lượng khai thác tiềm năng, m3/ngày

% khai thác so với tiềm năng

1

Đồng bằng Bắc Bộ

2.264.898,00

17.191.102,00

13,17

 

Trong đó Hà nội

1.779.398,00

8.362.000,00

21,27

2

Đồng bằng Nam Bộ

1.440.717,00

23.843.731,00

06,04

 

Trong đó T.P Hồ Chí Minh

850.000,00

2.501.059,00

33,98

3

Tây Nguyên

985.000,00

18.489.000,00

05,33

4

Tây Bắc Bộ

5.000,00

15.521.338,00

0,30

5

Đông Bắc Bộ

20.000,00

27.995.378,00

0,07

6

Bắc Trung Bộ (Từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế)

1.000.000,00

17.101.539,00

05,84

7

Nam Trung Bộ (từ Đà Nẵng đến Bình Thuận)

24.500,00

8.941.093,00

0,27

 

Toàn lãnh thổ Việt Nam

8.364.513,00

172.599.897,00

4,85

(Nguồn Cục Quản lý TNN,  LĐ QH và ĐT TNN miền Bắc,  miền Nam và miền Trung cung cấp và theo tính toán  của chúng tôi trong nhiều năm qua)

Kết quả trình bày trong bảng 1 cho thấy tiềm năng nước dưới đất ở Việt Nam rất lớn, nhưng do công tác điều tra đánh giá chưa được chi tiết, chưa đầy đủ nên con số đưa vào khai thác sử dụng chỉ chiếm một phần rất không đáng kể (4,85%) so với trữ lượng khai thác tiềm năng. Tuy nhiên do tác động của các yếu tố tự nhiên, do tác động hoạt động kinh tế của con người trong nhiều lĩnh vực (khai thác nước, khai thác mỏ, xây dựng công trình, đô thị trên mặt đất và trong không gian ngầm,...) mà tài nguyên nước dưới đất có nhiều biến động. Hầu hết sự biến động có chiều hướng xấu đi, ví dụ như: mực nước dưới đât liên tục bị hạ thấp, thu hẹp diện tích vùng bổ cập của tầng chứa nước (do xây dựng các khu đô thị), gia tăng nhiễm bẩn, nhiễm mặn,...(TP HCM), nhưng cũng có những mặt tích cực, như do mưa nhiều làm tăng lượng bổ cập (vùng giữa hai sông ĐB SCL, vùng Nam Trung Bộ), một số nơi diện tích nước nhạt được mở rộng thêm (vùng Hưng Yên đồng bằng Bắc Bộ), phát hiện và khẳng định tầng chứa nước mới (tầng chứa nước Neogen ở ĐBBB, nước kast ở Mèo Vạc, Hà Giang).

Sau đây chúng ta sẽ xem xét trong những vùng cụ thể.

2. Biến động tài nguyên nước dưới đất tại đồng bằng Bắc Bộ

2.1. Biến động mực nước

Để thấy được sự biến động mực nước dưới đất, nghĩa là biến động về mặt trữ lượng nước dưới đất chúng tôi dựa vào dữ liệu quan trắc tài nguyên nước trong nhiều thập kỷ qua.

Trên toàn đồng bằng Bắc Bộ, mực nước trong tầng chứa nước Pleistocen liên tục bị hạ thấp do khai thác nước. Từ mùa khô năm 2005 đến mùa khô năm 2012 mặt bằng chung mực nước suy giảm khoảng 2m (xem hình 1a,b). Toàn đồng bằng đã hình thành 3 trung tâm hạ thấp ở Hà Nội, Nam Định và Hải Phòng, trung tâm hạ thấp mực nước rộng nhất, sâu nhất là ở Hà Nội.

Chúng ta đi sâu vào sự phát triển trung tâm hạ thấp mực nước ở Hà Nội, nơi có mạng lưới quan trắc nước dưới đất hoạt động lâu năm nhất, mạng lưới tương đối dày số liệu cập nhật tương đối đầy đủ. Phân tích kết quả cho thấy diện tích vùng ảnh hưởng do khai thác (< 0m) trong mỗi chu kỳ năm được thu hẹp về mùa mưa và mở rộng về mùa khô và có xu hướng tăng dần theo thời gian.  Vùng ảnh hưởng mạnh (<-8m) cũng biến đổi theo mùa song có xu thế tăng lên liên tục theo thời gian từ 46 km2 (2/1992) đến 182,80 km2 vào tháng 5 năm 2011. Tốc độ tăng bình quân là 6,07 km2/năm.  Vùng ảnh hưởng rất mạnh ( < -14m) dao động yếu theo mùa và có xu thế tăng lên liên tục từ 3 km2 (1992) đến 102,02 km2 vào tháng 5 năm 2011,  tăng hơn giá trị cực đại năm 2010 là 7,56 km2. Mực nước sâu nhất tại Hà Nội năm 2011 là 34,87m ( P.41a- bãi giếng Hạ Đình), còn phát triển theo chiều rộng là sự tăng của diện tích phễu hạ thấp mực nước.

2.2. Biến động chất lượng nước

Nhìn chung tầng chứa nước Holocen (qh) có xu hướng nhạt hóa, diện tích phân bố nước nhạt (vùng có độ tổng khoáng hóa (TDS) nhỏ hơn 500 mg/l) lan rộng hơn, đặc biệt ở tỉnh Hưng Yên. Diện tích phân bố nước nhạt trong tầng chứa nước Pleistocen (qp) không có biến động lớn (xem hình 2a,b). Kết quả nghiên cứu trong tầng qp1 của toàn đồng bằng vào mùa khô năm 2012 cho thấy giá trị TDS trung bình là 607 mg/l, giảm so với năm 2010. Vào mùa mưa, cho thấy giá trị TDS trung bình là 578 mg/l, giảm với cùng kỳ năm 2010. [4,6].




3. Biến động tài nguyên nước dưới đất tại đồng bằng Nam Bộ

3.1. Biến động mực nước

Thông qua chuỗi số liệu thu thập được trong “mạng quan trắc Quốc gia tài nguyên nước dưới đất vùng Đồng bằng Nam Bộ” giai đoạn từ năm 1995 ÷ 2012 cho thấy được bức tranh biến động mực nước trong các tầng chứa nước [5,6]. Đồng bằng Nam Bộ có 7 tầng chứa nước đang khai thác sử dụng đều có những sự biến động rất đáng kể, tuy nhiên do khuôn khổ bài báo có hạn chúng tôi không thể trình bày một cách tiết cho từng tầng chứa nước. Ở đây có thể nêu ra một bức tranh chung và chi tiết cho các tầng chứa nước chính đang được khai thác mạnh mẽ nhất ở các trung tâm đô thị lớn ở đồng bằng Nam Bộ

Nhìn chung toàn đồng bằng, giai đoạn từ năm 1995 ÷ 2012, mực nước trong tầng chứa nước Holocen (qh) trong diện tích phân bố giữa sông Tiền và sông Hậu,  vùng Năm Căn - Cà Mau có xu hướng dâng lên theo thời gian, trung bình 10 năm dâng lên 0,69÷1,0m (xem hình 3).

 
   

Ngược lại, trong các tầng chứa nước khác trên toàn bộ diện tích ĐBNB, mực nước đều có xu hướng giảm. Điều đó được chứng minh bằng các bức tranh về mực nước của các tầng chứa nước theo kết quả quan trắc mà ở đây chúng tôi chỉ có thể minh họa trên toàn đồng bằng hai tầng chứa nước chính.

Mực nước trong tầng chứa nước Pleistocen trên (qp3) tại Cần Thơ, Trà Vinh từ năm 2000÷2010 đã suy giảm với tốc độ từ 0,27÷0,39 m/năm.  Tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên (qp23) tại ĐBNB hầu hết đều có sự suy giảm mực    nước mạnh theo thời gian với tốc độ suy giảm khoảng 0,3÷0,44 m/năm. Đây là tầng chứa nước đang được khai thác sử dụng tại Kiên Giang, Trà Vinh. Mực nước trong tầng chứa nước (qp1) là tầng chứa nước được khai thác mạnh mẽ nhất ở TP HCM và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng có xu hướng tương tự, giảm mạnh nhất trong các khu khai thác nước dưới đất  tập trung tại Tân Trụ - Long An, TP Cà Mau. Mực nước suy giảm với  tốc độ khoảng 0,51÷0,93 m/năm (xem hình 4). Mực nước trong tầng chứa nước Pliocen giữa (n22) và tầng chứa nước Pliocen dưới (n21) tại các khu khai thác nước tập trung như ở Trà Vinh có xu hướng giảm rất mạnh với tốc độ suy giảm mực nước từ 0,62÷0,89 m/năm (xem hình 4). Trong tầng chứa nước Miocen trên (n13), mực nước tại Hậu Giang, Cần Thơ có xu hướng suy giảm mực nước theo thời gian với tốc độ từ 0,34÷0,52 m/năm.

3.2. Biến động chất lượng nước (theo độ tổng khoáng hóa)

Sự biến động tổng khoáng hóa nước dưới đất ở đồng bằng Nam Bộ diễn ra rất phức tạp. Độ tổng khoáng hóa của nước có xu hướng luôn tăng ở tầng chứa nước này, ngược lại thì ở một số tầng chứa nước khác có chỗ tăng, có chỗ giảm. Để thấy được bức tranh về sự biến động chất lượng nước, chúng tôi đã cập nhật thông tin từ mạng quan trắc Quốc gia và địa phương để thành lập lên các bản đồ biến động chất lượng nước dưới đất. Do khuôn khổ bài báo có hạn ở đây chỉ trình bày sự biến động tổng khoáng hóa nước cuả 4 tầng chứa nước phổ biến nhất đang được khai thác sử dụng nhất ở đồng bằng Nam Bộ. Đó là các tầng chứa Pleistocen trung-thượng, Pleistocen hạ, Pliocen và Miocen. Trên các hình đó dùng màu và các đường gạch màu thể hiện diện tích các vùng có độ tổng khoáng hóa ổn định, tăng hoặc giảm. Đường gạch màu đổ thể hiện diện tích có TDS tăng, màu tím - ổn định, còn màu xanh thể hiện diện tích TDS có xu thế giảm. Đồng thời sự biến động đó còn thể hiện trên các điểm nghiên cứu đặc trưng (xem hình 5).

4. Biến động tài nguyên nước dưới đất vùng Tây Nguyên

Nhìn chung mực nước dưới đất vùng Tây Nguyên có xu thế hạ thấp vào 3 tháng đầu năm và dâng cao vào những 7 tháng cuối năm. Trong các vùng khai thác nước lớn như ở Buôn Ma Thuột, vùng TP Pleiku,... mực nước cũng có giảm, tuy nhiên so với nhiều năm trước mực nước có xu hướng phục hồi, do được bổ cập từ nước tưới, do hoạt động của công trình thủy điện Ialy và hoạt động của các hồ chứa..

5. Biến động tài nguyên nước dưới đất các vùng khác ở Việt Nam

Nước dưới đất vùng ven biển Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ biến động mạnh mẽ nhất, đặc biệt các vùng khai thác khoáng sản (Bình Định, Bình Thuận). Khai thác khoáng sản titan-zircon cần một lượng nước lớn, mà các nguồn nước ở đây lại rất khan hiếm, đồng thời thải ra một lượng nước cũng lớn trong đó có chứa các chất phóng xạ có thể cao hơn hàm lượng cho phép nhiều lần. Hình 6 là một vài ví dụ minh họa công nghệ guồng xoáy khai thác titan-zircon đang được áp dụng ở Tỉnh Bình Thuận. Hố khai thác luôn luôn phải ngập nước. Nước lấy ở đâu? Nước dưới đất tại chỗ? Một bài toán tồn tại hay không tồn tại đang được cân nhắc ở đây? Nếu khai thác thì nước dưới đất và rất có thể cả các nguồn nước mặt ở gần đó sẽ bị cạn kiệt, bị ô nhiễm, môi trường trên mặt và dưới đất bị phá hủy trầm trọng, khó lòng mà khôi phục lại được trong thời gian ngắn.



Hình 6. Công nghệ khai thác titan-zircon đang được áp dụng

6. Nguyên nhân biến động tài nguyên nước dưới đất và những giải pháp phục vụ khai thác bền vững tài nguyên

Từ những phân tích ở phần trên có thể đưa ra một số nhận định về tình hình biến đổi tài nguyên nước dưới đất (mực nước và độ tổng khoáng hóa) lãnh thổ Việt Nam. Tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, sự suy giảm mực nước trong các công trình khai thác và biến đổi chất lượng nước chủ yếu do con người, do công nghệ khai thác (bố trí bãi giếng, kết cấu công trình giếng khoan, công suất khai thác không phù hợp với khả năng của giếng khoan...). Ngược lại tại các vùng nông thôn, đồng bằng rộng lớn sự biến động mực nước và chất lượng nước không những do con người gây ra mà còn do sự biến đởi khí hậu và tự nhiên đã gây ra những biến động đó.

Ở Tây Nguyên, vấn đề tồn tại hay không tồn tại giữa khai thác bô xít và bảo vệ môi trường đặc biệt là môi trường nước. Nhiều hội thảo khoa học, nhiều bài báo, báo cáo khoa học đã công bố đã cảnh báo hiểm họa khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Khai thác bô xít ở Tây nguyên  không những làm mất đi diện tích rừng tự nhiên nơi được xem như miền tích nước cho các lưu vực sông Tây Nguyên, mà còn làm mất đi vỏ phong hóa bazan nơi được xem như cái acquy tích nước cho các tầng chứa nước phía dưới.

Ở các vùng ven biển Nam Trung Bộ, khai thác titan-zircon không những làm cạn kiệt nguồn nước mà còn làm ô nhiễm nguồn nước một cách trầm trong do nước thải khi khai thác mỏ, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái các khu du lịch nổi tiếng.

Để giảm thiểu nguy cơ suy giảm mực nước, nguy cơ ô nhiễm, xâm nhập mặn, tăng cường trữ lượng các tầng chứa nước nhạt hiện có, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp công nghệ sau đây.

+ Trước hết đã đến lúc cần tập hợp số liệu điều tra nghiên cứu từ trước đến nay để phân vùng khai thác cho từng tầng chứa nước. Phân chia các tầng chứa nước ra làm các vùng có thể khai thác, hạn chế khai thác và cấm khai thác phải dựa trên tình hình thực tế và các tiêu chí khoa học được lựa chọn [1,7,8]. Đây chính là mục tiêu và nội dung nghiên cứu của chúng tôi trong một đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước đang thực hiện mang mã số KC.08.06/11-15 và cũng là những mục tiêu điều tra đánh giá tài nguyên nước mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đang triển klhai thực hiện;

+ Quy hoạch bãi giếng và có chế độ khai thác hợp lý đối với mỗi tầng chứa nước;

+ Triển khai công tác bổ sung nhân tạo trữ lượng nước dưới đất bằng nước mưa, nước mặt những vùng có điều kiện thuận lợi như ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, TP HCM, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu. Tại đây cần triển khai ngay giải pháp thu gom nước mưa dư thùa vào mùa mưa  đưa xuống lòng đất trong giới hạn hình phễu hạ thấp mực nước để cùng một lúc kịp thời bù lại lượng nước đang khai thác, chống cạn kiệt nguồn nước, bảo vệ nước nhạt trước sự xâm nhập của nước mặn đồng thời giảm thiểu úng ngập mặt đất diễn ra mỗi khi có đến;

+ Triển khai các giải pháp chống thất thoát nước dưới đất ra sông (Tây Nguyên), ra biển (ven biển và hải đảo) bằng các đê ngầm, đập ngầm; tăng chiều dày tầng chứa nước bằng các đập cát (vùng cát ven biển miền Trung, miền núi trung du Bắc Bộ, Trung Bộ); tăng cường canh tác theo đường đồng mức để lưu giữ nước mưa (Tây Nguyên miền núi và trung du...);

+ Tăng cường công tác quan trắc động thái nước dưới đất bằng cách mở rộng mạng quan trắc quốc gia và địa phương, mạng chuyên; khai thác và xử lý thông tin để kịp thời đưa ra những cảnh báo về tài nguyên nước dưới đất.

KẾT LUẬN

1. Lãnh thổ Việt Nam có tiềm năng nước dưới đất phong phú với trữ lượng khai thác tiềm năng đến trên 172,6 triệu m3/ngày, trong đó trữ lượng có thể khai thác mà không làm cạn kiệt nguồn nước có thể chiếm một nửa. Theo  thống kê đến thời  điểm nghiên cứu các tỉnh và thành phố ở Việt Nam hiện tại mới chỉ khai thác sử dụng khoảng 8,36 triệu m3/ngày, chiểm 4,85% trữ lượng khai thác tiềm năng.

2. Dưới tác động các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, trong đó chủ yếu là tác động do con người gây ra làm cho nước dưới đất có sự biến động sâu sắc với xu hướng xấu đi.

3. Để giảm thiểu sự suy giảm trữ lượng và ô nhiễm nước dưới đất cần thực hiện một loạt các giải pháp, trong đó giải pháp hàng đầu là khai thác hợp lý, chỗ nào có thể khai thác,  ở đâu cấm khai thác và hạn chế khai thác, đông thời cần tổ chức giám sát chặt chẽ sự biến động tài nguyên nước dưới đất bằng công tác quan trắc động thái lâu dài thường xuyên, triển khai ngay giải pháp thu gom nước mưa dư thùa đưa vào lòng đất bổ sung nhân tạo nước dưới đất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đoàn Văn Cánh (2005). Nghiên cứu xây dựng cơ sở Khoa học và đề xuất các giải pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước vùng Tây Nguyên. Báo cáo kết quả nghiên cứu ề tài trọng điểm cấp nhà nước mã số KC.08.05. Trung tâm thông tin KHKT Quốc gia. Hà Nội, 2005. 250 trang. Số đăng ký 2005-52-262/KQ, ngày 14 tháng 6 năm 2005.

2. Đoàn Văn Cánh (2010). Nghiên cứu cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp thu gom nước mưa đưa vào lòng đất phục vụ chống hạn và bổ sung nhân tạo nước dưới đất vùng Tây Nguyên. Báo các kết quả thực hiện đề tài độc lập cấp nhà nước mã số ĐTĐL.2007G/44. Trung tâm thông tin KHKT Quốc gia. Hà Nội, 2010. 204 trang. Số đăng ký 2010-52-581/KQNC, ngày 06 tháng 12 năm 2010

3. Nguyễn Kim Cương, 1995. Để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước ngầm và sụt lún mặt đất của Thủ đô Hà Nội. Báo cáo tại hội nghị quốc tế về môi trường. Hà Nội, 1985.

4. Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và công bố. NXB Tài nguyen- Môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội, 2012.

5. Nước dưới đất đồng bằng Bắc Bộ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Năm 2000. 111 trang.

6. Nước dưới đất đồng bằng Nam Bộ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Năm 1998. 163 trang.

7. Nước dưới đất khu vực Tây Nguyên. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Năm 1999. 188 trang.

8. Nước dưới đất các đồng bằng ven biển Bắc Trung Bộ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Năm 1996. 89 trang.

9. Nước dưới đất đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Năm 1998. 123 trang.

10. Niên giám động thái nước dưới đất đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, khu vực Tây Nguyên. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ công nghiệp. 1999, 2000 – 2011

11.  Phân chia địa tầng N - Q và nghiên cứu cấu trúc địa chất đồng bằng Nam Bộ tỷ lệ 1:500.000. Báo cáo kết quả đề án do Liên đoàn ĐCTV – ĐCCT miền Nam thực hiện. 2004

12. Groundwater resources sustainability indicators. Editor: Jaroslav Vrba and Annukka Lipponen. Published in 2007 by the United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization. 7, Place de Fontenoy, 75352 Paris 07 SP (France). Composed by Marina Rubio, 93200 Saint-Denis. © UNESCO 2007. IHP/2007/GW-14.

13. Groundwater Resouces Sustainability Indicators. UNESCO IHP-VI Series on Groundwater No. 14.

 
Tài nguyên nước dưới đất vùng Hà Nội và vấn đề khai thác sử dụng
Thứ tư, 02 Tháng 6 2010 03:01    In Email

Như chúng tôi đã thông báo vào ngày 09 tháng 3 năm 2012, Liên Hiệp các hội KHKT Việt Nam đã chủ trì tổ chức hội thảo "Trữ lượng nước ngàm của Hà Nội và giải pháp cấp nước cho Hà Nội". Hội thảo đã được đông đảo các nhà khoa học và ĐCTV tham gia, tham luận, được các quan chức Trung ương và Hà Nội quan tâm và được đông đảo phomngs viên báo, đài đến thông tin.

Để bạn đọc xa gần nắm được thông tin về tài nguyên nước dưới đất và vấn đề cấp nước cho Hà Nội một cách hiệu quả, đúng đắn, chúng tôi sẽ lần lượt đăng tải những tham luận trong hội thảo nêu trên.

Sau đây chúng tôi giới thiệu lời dẫn giới  thiệu tuyển tập báo cáo hội thảo của GS TSKH Đặng Vũ Minh - Chủ tịch liên hiệp các hội KH và KT Việt Nam

 NGUỒN NƯỚC NGẦM CỦA HÀ NỘI

VÀ GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC CHO THỦ ĐÔ HÀ NỘI

(Lời đề dẫn giới thiệu cho Hội thảo khoa học "Trữ lượng khai thác nước ngầm

của Hà Nội và giải pháp cấp nước cho Thủ đô Hà Nội" ngày 09 tháng 3 năm 2012)

Vấn đề cơ sở hạ tầng là một vấn đề rất quan trọng và đã được Hội nghị BCH TW lần thứ 4 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam bàn thảo và ra Nghị quyết.

Ngày 18 tháng 11 năm 2011 Lãnh đạo UBND TP. Hà Nội và Bộ Xây dựng đã tổ chức Hội nghị chung thống nhất thực hiện "Qui hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và định hướng đến năm 2050" đã được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt tháng 7 năm 2011 sau khi TP. Hà Nội được mở rộng, trong đó có Qui hoạch hạ tầng kĩ thuật nói chung và Qui hoạch tổng thể cấp nước nói riêng của Thủ đô Hà Nội.

Trước đây, trong "Qui hoạch tổng thể phát triển cấp nước Hà Nội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 50/2000/QĐ-TTg ngày 24/4/2000 đã khuyến cáo "Không sử dụng nước ngầm, chỉ nghiên cứu sử dụng nguồn nước mặt sông Hồng và sông Đà". Nhưng các nhà địa chất thủy văn Việt Nam lại không suy nghĩ như vậy và cho rằng nguồn nước ngầm của Hà Nội rất phong phú, cần phải được điều tra thăm dò đánh giá theo đúng các qui định hiện hành để đưa vào khai thác sử dụng phục vụ các mục đích và nhu cầu xây dựng và phát triển của Thủ đô Hà Nội, trong đó có sự nghiệp cấp nước sạch.

Ngày 02/12/2011 TS. Nguyễn Văn Túc, Viện trưởng Viện Công nghệ Nước và Môi trường thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - một nhà khoa học địa chất thủy văn đã nhiều năm liên tục tham gia trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp nghiên cứu điều tra và khảo sát thăm dò đánh giá nguồn nước ngầm của Thủ đô đã gửi Tờ trình về vấn đề "Trữ lượng khai thác nước ngầm của Hà Nội và giải pháp cấp nước cho Thủ đô" tới Lãnh đạo UBND TP. Hà Nội, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên & Môi trường và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Thực hiện nhiệm vụ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam theo Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ, hôm nay ngày 09/3/2012 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học "Trữ lượng khai thác nước ngầm của Hà Nội và giải pháp cấp nước cho Thủ đô Hà Nội".

Tham gia tổ chức Hội thảo khoa học này gồm các đơn vị:

1. Viện Công nghệ Nước & Môi trường, Liên hiệp Hội Việt Nam.

2. Sở Tài nguyên & Môi trường Hà Nội.

3. Cục Quản lý Tài nguyên Nước, Bộ Tài nguyên & Môi trường.

4. Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước, Bộ TN&MT.

5. Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước miền Bắc.

6. Hội Địa chất thủy văn Việt Nam.

Các đại biểu đã được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam mời tham gia Hội thảo khoa học này gồm:

- Lãnh đạo các cấp của UBND TP. Hà Nội, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên & Môi trường và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam liên quan đến lĩnh vực Tài nguyên nước và Môi trường.

- Các nhà quản lí, nhà khoa học và chuyên gia kĩ thuật của các cơ quan tổ chức: qui hoạch và điều tra đánh giá tài nguyên nước; qui hoạch xây dựng; tư vấn thiết kế về chuyên ngành nước và môi trường; nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo; khai thác sử dụng tài nguyên nước (các Công ty, Xí nghiệp nước sạch trên địa bàn TP. Hà Nội và phụ cận)...

- Các cơ quan phát thanh, truyền hình và thông tấn gồm: Đài truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và Đài phát thanh & truyền hình Hà Nội.

- Các cơ quan báo chí trung ương và địa phương gồm: Báo Nhân dân, Báo Lao động, Báo Tiền phong, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Báo Hà Nội mới...

- Các cơ quan thông tin và báo chí của TP. Hà Nội, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên & Môi trường và Liên hiệp các Hội Khoa học & Kĩ thuật Việt Nam.

Xin chân thành cảm ơn sự có mặt của các vị đại biểu. Xin chúc sức khỏe các quý vị đại biểu. Chúc Hội thảo khoa học thành công./.

 

GS.TSKH. Đặng Vũ Minh

Chủ tịch

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

 


Trang 7 trong tổng số 7 trang